Công ty Thiết kế web

Tìm kiếm vật liệu thay thế cốt liệu bê tông truyền thống

Thảo luận trong 'Nội Ngoại Thất' bắt đầu bởi victorianga, 24/7/20.

Tags:
  1. victorianga

    victorianga Member

    Tìm kiếm vật liệu thay thế cốt liệu bê tông truyền thống Tóm lại, việc nghiên cứu, chế tạo bê tông cốt liệu nhẹ chịu lực (bê tông nhẹ cường độ cao) trên cơ sở vật liệu trong nước có ý nghĩa khoa học và thực tiễn hết sức to lớn, mở ra hướng mới trong việc tìm kiếm vật liệu thay thế cốt liệu bê tông truyền thống báo giá máy mài sàn bê tông cũng như khả năng ứng dụng các kết cấu nhẹ hơn, vượt được khẩu độ lớn hơn trong công trình cầu. Bê tông cốt liệu nhẹ khối lượng thể tích dưới 11.900kg/m3, có cường độ tương đương bê tông thường và nhẹ hơn khoảng 25 - 35%. Bê tông cốt liệu nhẹ khắc phục hạn chế của bê tông truyền thống, giúp việc thiết kế công trình mềm dẻo hơn và đem lại hiệu quả kinh tế cao. Ở nước ta đã chế tạo được bê tông cốt liệu nhẹ, tuy nhiên cường độ còn thấp và chủ yếu ứng dụng làm vật liệu cách nhiệt, các cấu kiện trong xây dựng dân dụng. Bê tông cốt liệu nhẹ chịu lực (cường độ cao) chưa được quan tâm nghiên cứu máy đánh bóng nền bê tông, thiết kế để phát triển loại vật liệu này trong các kết cấu chịu tải trọng lớn. Theo tiêu chuẩn châu Âu EN 206-1:2000, bê tông nhẹ có khối lượng thể tích nhỏ hơn 2.000kg/m3 và cường độ chịu nén dao động từ 8 - 80MPa (mẫu trụ). Bê tông nhẹ chịu lực theo ACI 213R-03 là bê tông có khối lượng thể tích từ 1.120 - 1.920kg/m3 và cường độ chịu nén ngày 28 ngày tối thiểu là 17MPa. [​IMG] Có thể thấy rằng, khi khối lượng thể tích giảm từ 2.400kg/m3 trong bê tông truyền thống xuống còn 1.900kg/m3 đối với bê tông nhẹ thì có thể giảm bớt trọng lượng bản thân của kết cấu một cách đáng kể, giúp tiết kiệm được cốt thép và cốt thép dự ứng lực, giảm chi phí xây dựng. Nếu sử dụng trong công trình cầu, tĩnh tải bản thân của kết cấu giảm cho phép vượt khẩu độ dài hơn, sử dụng các loại trụ và nền móng đơn giản và giảm tiết diện bề mặt của cấu kiện dầm. Ngoài ra, việc sử dụng bê tông cốt liệu nhẹ trong sửa chữa và cải tạo cầu thường làm tăng khả năng chịu tải trọng động của các kết cấu cầu cũ. Trên thực tế, bê tông cốt liệu nhẹ đã được sử dụng thành công và phổ biến trong xây dựng nói chung và xây dựng cầu nói riêng từ hơn 70 năm qua trên thế giới. Một nghiên cứu về vật liệu này đã tổng hợp rằng hơn 300 cầu nhẹ được xây dựng ở Bắc Mĩ, tối thiểu 100 cái đã xây dựng ở Liên Xô cũ, một số lượng đáng kể đã được thực hiện ở châu Âu và đặc biệt hơn 2.000 cầu nhẹ nhịp ngắn đã được xây dựng ở Alberta, Canada. Rõ ràng, việc sử dụng bê tông cốt liệu nhẹ trong xây dựng cầu không phải là mới trên thế giới, tuy nhiên vẫn hoàn toàn mới mẻ ở Việt Nam. Những năm gần đây, ở nước ta, bê tông cốt liệu nhẹ đã bắt đầu được quan tâm, sản xuất và sử dụng làm vật liệu cách nhiệt, gạch block, các tấm bản dùng trong xây dựng dân dụng. Tuy vậy, các loại bê tông này có khả năng chịu lực khá giới hạn, cường độ chịu nén tuổi 28 ngày chỉ đạt khoảng 25 - 30MPa, do đó chưa thể ứng dụng trong các kết cấu chịu tải trọng lớn như kết cấu cầu. Trên thực tế, nguồn nguyên liệu đầu vào cho sản xuất bê tông cốt liệu nhẹ ở nước ta vẫn còn khá hạn chế, đặc biệt là các loại cốt liệu nhẹ chất lượng cao, gây khó khăn cho việc sản xuất các loại bê tông cốt liệu nhẹ cường độ cao. Do đó, cần quan tâm nghiên cứu thành phần bê tông cốt liệu nhẹ trên cơ sở vật liệu trong nước nhằm cải thiện các đặc tính cơ học để có thể phát triển loại vật liệu này trong các kết cấu chịu tải trọng lớn. Vật liệu sử dụng và phương pháp nghiên cứu Vật liệu chế tạo bê tông cốt liệu nhẹ cũng bao gồm các thành phần cơ bản là cốt liệu, chất kết dính, nước và phụ gia (nếu cần). Trong đó, cốt liệu nhẹ sử dụng có thể có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo. Hiện nay, các loại cốt liệu nhân tạo là lựa chọn tốt nhất để chế tạo bê tông nhẹ chịu lực, trong đó phổ biến nhất là sét nở (keramzit). Vật liệu sử dụng - Cốt liệu lớn: Nghiên cứu lựa chọn sử dụng cốt liệu nhân tạo là sỏi keramzit. Những hạt sỏi gốm thường có hình cầu hoặc hình bầu dục, được sản xuất bằng cách nung nở phồng đất sét dễ chảy. Sét khô và nở trong lò quay ở nhiệt cao khoảng 1.100 - 1.200ºC, khi đi qua vùng đốt. Sản phẩm cuối cùng là sét nở với bề mặt gốm cứng. - Cốt liệu nhỏ sử dụng trong nghiên cứu là cát vàng sông Hồng có thành phần hạt của cát đạt tiêu chuẩn TCVN 7570-2006. Các tính chất vật lý của cát được giới thiệu ở Bảng 2.2. - Xi măng sử dụng là xi măng poóc lăng Bút Sơn PC40, có các chỉ tiêu kỹ thuật thỏa mãn tiêu chuẩn TCVN 2682-1992. - Bột khoáng siêu mịn hoạt tính sử dụng trong nghiên cứu giá máy đánh bóng nền bê tông là muội silic (silica fume) loại Sikacrete PP1 của hãng Sika, thành phần là hoạt chất đioxit silic cực mịn, kích thước hạt < 0,1mm và khối lượng riêng là 2,2g/cm3. - Phụ gia siêu dẻo sử dụng loại phụ gia giảm nước cao cấp loại viscocrete 3.000 - 20M của hãng Sika, có thành phần là polycarboxylat cải tiến, khối lượng riêng là 1,06g/cm3. - Nước dùng để trộn bê tông là nước sạch lấy từ nguồn nước sinh hoạt của TP. Hà Nội.
     

trang này